Wednesday, 24 June 2015

Canh bạc ADIZ trên Biển Đông của Trung Quốc (P1)

Báo Mỹ cuối tuần trước dẫn lời chuyên gia Harry Kazianis phân tích về khả năng cũng như nguyên nhân Trung Quốc muốn lập một Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông, đồng thời đưa ra giải pháp khả thi để ngăn chặn ý đồ của Trung Quốc.

Trung Quốc đang có những động thái hung hăng khiến khu vực và thế giới quan ngại. (Ảnh minh họa:
Trung Quốc đang có những động thái hung hăng khiến khu vực và thế giới quan ngại. (Ảnh minh họa: NT)

 ADIZ trên Biển Đông đang hình thành?

Trong vài năm gần đây, các chuyên gia an ninh châu Á thường có những nhận định không thiện cảm về các chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Những lời phản đối trở nên mạnh mẽ hơn khi vào tháng 11/2013, Trung Quốc ra tuyên bố về Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên Biển Hoa Đông, vốn là một điểm nóng tranh chấp giữa các cường quốc trong khu vực. 

Hành động đơn phương này của Trung Quốc tất nhiên đã châm ngòi cho các cuộc tranh cãi quốc tế, đồng thời làm tăng thêm mối lo ngại của các quốc gia về mục đích của Trung Quốc ở châu Á - Thái Bình Dương và rộng hơn là vùng Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.

Vậy liệu Trung Quốc có tuyên bố một ADIZ tương tự ở Biển Đông?
 
Có nhiều lý do để tin rằng các hoạt động cải tạo đảo gần đây của Trung Quốc ở Biển Đông chính là một bước chuẩn bị cơ sở hạ tầng cho các tuyên bố và yêu cầu công nhận về một ADIZ mới trong tương lai. Các tính toán của Bắc Kinh đã rất rõ ràng: họ muốn đặt tất cả vào “sự đã rồi” bằng cách sử dụng các công trình nhân tạo kiên cố để ra tuyên bố và ép buộc tất cả phải tuân theo. 

Trước hết, cần xem xét kỹ lưỡng tuyên bố ADIZ trên Biển Hoa Đông của Trung Quốc. Một lý do có vẻ hợp lý hơn cả là tuyên bố năm 2013 của Bắc Kinh hoặc các động thái nhắm đến một ADIZ mới ở biển Đông đều có mục đích sâu xa là đẩy Mỹ và các lực lượng đồng minh tránh xa khỏi các vùng “cận lãnh hải” cũng như các vùng “lợi ích cốt lõi” (?) đối với Trung Quốc. 

Mặc dù rất nhiều quốc gia khác, bao gồm cả Mỹ, đều đã có những tuyên bố về các ADIZ trong quá khứ, thông báo của Bắc Kinh vẫn cần được lưu tâm. ADIZ theo thông báo của Trung Quốc hồi năm 2013 trải rộng hầu khắp Biển Hoa Đông, tuyến đường hàng hải và hàng không trọng yếu được khai thác bởi hầu hết các quốc gia hùng mạnh ở châu Á và trên thế giới. 

Tại sao Bắc Kinh muốn lập ADIZ trên Biển Đông?

Tại sao Bắc Kinh tuyên bố về các vùng nhận diện dù biết chắc chắn rằng việc đó sẽ châm ngòi cho các căng thẳng trong khu vực?
 
Hành động của Trung Quốc rõ ràng là một phần của toan tính lâu dài nhằm kiểm soát và ngăn chặn các hoạt động quân sự ngoại bang tại nơi mà họ gọi là “cận lãnh hải”. 

Theo China Brief, việc công khai các vùng nhận diện mới này không phải là tuyên bố nhất thời mà đó là sách lược được suy xét cẩn thận nhằm vô hiệu hoá Mỹ cũng như bất kì nỗ lực nào từ bên ngoài muốn tiếp cận Biển Đông. 

Tuyên bố ADIZ 2013 không chỉ đơn thuần là hành động tranh giành lãnh thổ, mà còn là một động thái nhằm gia tăng sự phản đối các hoạt động của Mỹ trong khu vực. Nó sẽ cung cấp khung pháp lý cho những cáo buộc của Bắc Kinh về việc Mỹ sử dụng máy bay thu thập thông tin tình báo gần lãnh thổ Trung Quốc, các hoạt động do thám bằng radar và những hoạt động khác vốn làm giới chức Bắc Kinh cảm thấy khó chịu. 

Học thuyết ASB - Cái cớ để Trung Quốc xây dựng ADIZ?

Như đã phân tích, Trung Quốc dường như cảm thấy ADIZ là cần thiết để chống lại các nguy cơ đang gia tăng từ Mỹ. Bắc Kinh luôn nhấn mạnh Học thuyết tác chiến không-biển (ASB) là bằng chứng của khả năng về một hành vi can thiệp quân sự của Mỹ vào các vùng lợi ích của họ.

ASB là một học thuyết quen thuộc của quân đội Mỹ với mục tiêu phá hủy, tiêu diệt và đánh bại mọi lực lượng quân sự thù địch của đối phương trên toàn bộ chiến trường, thống trị bầu trời và mặt biển, phong tỏa lục địa của đối phương.

ASB, giờ đây được đổi thành (JAM-GC), là một tập hợp các khái niệm và phương thức để Mỹ có thể tham gia vào các vùng lãnh thổ mà họ có quyền lợi. Đây thực sự là một lời phản đối cho tham vọng của Trung Quốc trong việc phát triển A2/AD (chống tiếp cận và chống thâm nhập khu vực).

Từ đây ta có thể thấy một tình thế tiến thoái lưỡng nan cho cả hai "ông lớn": Trung Quốc, để bảo vệ các lợi ích cốt lõi đã xây dựng A2/AD. Mỹ sử dụng ASB để thách thức các hành động này.
 
Bắc Kinh quan sát sự phát triển của học thuyết của Mỹ và trả lời bằng ADIZ trên biển Hoa Đông. Trung Quốc còn đang có động thái mở rộng nó xuống phía biển Đông, một hành động nhằm đẩy lùi Mỹ ra xa các vùng “cận lãnh hải” của họ.

(còn tiếp)

Trần Khánh

Anh trai cố Tổng thống Hàn Quốc bị triệu tập do nghi nhận hối lộ

Ngày 24/6, ông Roh Geon-pyeong, anh trai của cố Tổng thống Hàn Quốc Roh Moo-hyun, đã bị triệu tập đến cơ quan công tố với lời cáo buộc nhận hối lộ...

Ông Roh Geon-pyeong, anh trai của cố Tổng thống Hàn Quốc Roh Moo-hyun. (Nguồn:
Ông Roh Geon-pyeong, anh trai của cố Tổng thống Hàn Quốc Roh Moo-hyun. (Nguồn: joins.com)
...  Để tác động tổng thống ra lệnh đặc xá cho cố chủ tịch Tập đoàn Keangnam Enterprises Sung Wan-jong.
Một công tố viên cho biết ông Roh Geon-pyeong đã bắt đầu bị thẩm vấn với sự có mặt của một luật sư. Lệnh triệu tập này là một phần của cuộc điều tra về “danh sách hối lộ” do ông Sung để lại trước khi tự sát hồi tháng 4/2015.
Theo các công tố viên, một lãnh đạo mang họ Kim của Keangnam khai rằng ông đã đề nghị ông Roh Geon-pyeong giúp có được lệnh đặc xá cho ông Sung.
Cuối nhiệm kỳ của các tổng thống, các chính quyền trước đây ở Hàn Quốc thường ban lệnh đặc xá cho lãnh đạo doanh nghiệp và chính khách đang chịu án tù nhằm tăng cường tính hòa hợp dân tộc./.
 
Theo (Vietnam+)

Tuesday, 16 June 2015

Pháp chuẩn bị chốt thương vụ bán máy bay Rafale cho Ấn Độ

Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Jean -Yves Le Drian ngày 17/6 thông báo thỏa thuận bán 36 máy bay chiến đấu Rafale cho Ấn Độ có thể được hoàn tất trong 2 hoặc 3 tháng tới.

Máy bay chiến đấu Rafale (Ảnh: 
Máy bay chiến đấu Rafale (Ảnh: Times of India)

Thỏa thuận bán máy bay này được công bố hồi tháng 4 vừa qua và được ký kết sau khi tập đoàn Dassault Aviation giành được hợp đồng xuất khẩu đầu tiên mẫu Rafale sang Ai Cập hồi tháng 2 năm nay. 

Sau đó, Qatar cũng đặt mua mẫu máy bay chiến đấu này. Hiện Pháp đang đàm phán với Malaysia và Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất về thương vụ mua bán chiến đấu cơ Rafale.  

"Tôi sẽ sớm tới Ấn Độ để thảo luận về những điều khoản trong hợp đồng, song vào lúc này thương vụ đang được triển khai suôn sẻ", Bộ trưởng Le Drian phát biểu tại Triển lãm Hàng không Paris đang diễn ra. 

Khi được hỏi về thời gian thỏa thuận mua bán trên được ấn định, Bộ trưởng Le Drian cho biết "trong khoảng 2 tới 3 tháng nữa". 

Trong chuyến thăm Pháp hồi tháng 4 vừa qua, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã thông báo quyết định mua 36 chiếc máy bay chiến đấu Rafael, với tổng trị giá lên tới 5 tỷ euro. 

Những năm qua Ấn Độ đã đẩy mạnh kế hoạch hiện đại hóa quân đội với khoản ngân sách lên tới 100 tỷ USD. Trước đây, chính phủ Ấn Độ từng dự định mua tới 126 chiếc máy bay Rafale, song kể từ khi Thủ tướng Modi lên nắm quyền, Ấn Độ đã giới hạn xuống còn 36 chiếc. 

Trong một năm cầm quyền, Thủ tướng Modi cũng đã thông qua nhiều hợp đồng mua bán vũ khí quân sự từng bị đình lại dưới thời của chính phủ trước.  

Bên cạnh đó, Thủ tướng Modi cũng muốn chấm dứt việc Ấn Độ là quốc gia nhập khẩu vũ khí nhiều nhất thế giới. Ông đã đặt ra mục tiêu Ấn Độ sản xuất được 70% các loại vũ khí trong thập niên tới. 

Ngọc Anh 
Theo Times of India 

Trung Quốc xoa dịu Mỹ ở Biển Đông

Báo New York Times nhận định các động thái của Trung Quốc chỉ nhằm xoa dịu Mỹ trước chuyến thăm của Chủ tịch Tập Cận Bình.

Ngày 16-6, tại buổi họp báo ở Bắc Kinh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Khảng thông báo công trình bồi đắp các đảo trên Biển Đông sắp hoàn tất, tiếp theo đó sẽ triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng để “thực hiện các chức năng liên quan”.
Người phát ngôn vẫn ra rả luận điệu xây dựng ở quần đảo Nam Sa (cách gọi của Trung Quốc về quần đảo Trường Sa của Việt Nam) là “hợp tình, hợp lý và hợp pháp, không nhằm vào bất kỳ quốc gia nào, không ảnh hưởng đến tự do hàng hải và hàng không, không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái biển”.
Người phát ngôn ngang nhiên thừa nhận rằng công trình nạo vét ở Biển Đông nhằm lập nơi đồn trú và đáp ứng một số chức năng phòng vệ quân sự.
Nhân dịp này, Trung Quốc đã công bố ảnh vệ tinh về đá Chữ Thập sau khi hoàn tất bồi đắp.
Tân Hoa xã lưu ý đá Chữ Thập sau khi hoàn tất bồi đắp sẽ trở thành đảo lớn nhất ở quần đảo Trường Sa, gấp 120 lần so với đảo Ba Bình hiện nay.
Trung Quốc công bố ảnh đá Chữ Thập sau khi hoàn tất bồi đắp. (Ảnh:
Trung Quốc công bố ảnh đá Chữ Thập sau khi hoàn tất bồi đắp. (Ảnh: THX)
Báo New York Times nhận định thông báo của phía Trung Quốc có thể hiểu là họ sẽ ngừng cải tạo đất trên các đảo. Tuy nhiên, hành động này của Trung Quốc chỉ nhằm xoa dịu Mỹ mà thôi.
Chuyên gia Carl Thayer ở Học viện Quốc phòng Úc nhận định Trung Quốc sắp giảm dần hoạt động tôn tạo các đảo trên Biển Đông trước chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch Tập Cận Bình dự kiến vào tháng 9.
Trong khi đó tại Philippines, Thẩm phán Tòa án Tối cao Antonio Carpio đã chỉ trích Trung Quốc tại diễn đàn “Hướng tới hành động chung - Bảo vệ an ninh và lợi ích hàng hải ở châu Á thông qua hợp tác khu vực” ở TP Pasig hôm 15-6.
Ông nói: “Trung Quốc đã phá hủy bảy rạn san hô trong chưa đầy hai tháng. 70% nguồn cá của Philippines sản sinh ở đây… Đây là nguồn thực phẩm chính của chúng tôi nhưng Trung Quốc không hề quan tâm điều đó”. Theo báo The Manila Times, ông đã đề nghị chính phủ Philippines yêu cầu tòa trọng tài thường trực của LHQ ban hành một số biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc Trung Quốc ngừng cải tạo đất nhằm ngăn chặn nguy cơ hủy hoại môi trường biển.
Dự kiến ông sẽ bay tới La Haye (Hà Lan) vào tháng 7 tới để tham gia phiên điều trần do tòa trọng tài thường trực tổ chức để giải quyết đơn của Philippines kiện “đường chín đoạn” của Trung Quốc từ năm 2013.
Với đầu đề “Thảm họa sinh thái ở Biển Đông”, tạp chí Slate (Mỹ) ngày 15-6 đã khẳng định hoạt động bồi đắp các đảo nhân tạo của Trung Quốc trên Biển Đông đang hủy hoại hệ sinh thái san hô quý giá nhất và không gì thay thế được.
Báo lưu ý quần đảo Trường Sa có tới 571 loài san hô, tạo môi trường tốt cho rất nhiều loài cá sinh sản và phát triển. Sau đó đến lượt cá trở thành nguồn nuôi sống ngư dân.
Tiến sĩ sinh học Alan Freidlander ở ĐH Hawaii nhận xét: “Nạo vét và xây dựng trên các rạn san hô ở Biển Đông đang gây thiệt hại khó khắc phục cho một trong các hệ sinh thái phong phú nhất hành tinh”.
Chuyên gia Jay L. Batongbacal, Giám đốc Viện Nghiên cứu biển và luật biển thuộc ĐH Philippines, ghi nhận quá trình tôn tạo đảo nhân tạo cũng phá hủy khu vực xung quanh các rạn san hô.
Ước tính có gần 311ha rạn sạn hô bị phá hủy, gây thiệt hại kinh tế hằng năm 110 triệu USD.
Ngày 15-6, người phát ngôn tổng thống Philippines đã chỉ trích Phó Đại sứ Trung Quốc tại LHQ Vương Dân cứ ngụy biện hoạt động cải tạo của Trung Quốc ở Biển Đông là “hợp tình, hợp lý và hợp pháp”. Người phát ngôn khẳng định Philippines sẽ tiếp tục đấu tranh đến cùng, chủ yếu xoáy vào khía cạnh hủy hoại môi trường do hoạt động cải tạo đất trái phép của Bắc Kinh trên Biển Đông.
104 km2 là tổng diện tích trên đá Chữ Thập sau khi Trung Quốc hoàn tất bồi đắp. Theo Tân Hoa xã, trong đó đất liền rộng 62 km2, hồ nước ngọt 6,5 km2, cảng biển 35,5 km2. Dự toán chi phí cải tạo đất là 73,6 tỉ nhân dân tệ (256.864 tỉ đồng VN).
 
Theo Bảo Như - Quân Khoa - TNL
Pháp luật TPHCM

"Kế hoạch của Trung Quốc không góp phần giảm căng thẳng..."

 Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 17/6 tuyên bố lo ngại về các kế hoạch xây dựng cơ sở quân sự của Trung Quốc trên các đảo nhân tạo bồi đắp trái phép ở Biển Đông, sau khi Bắc Kinh tuyên bố sắp cải tạo xong các bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Tàu hút bùn Trung Quốc hoạt động gần đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. (Ảnh:Tàu hút bùn Trung Quốc hoạt động gần đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. (Ảnh:US Navy)

Tờ BI dẫn thông báo của Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 17/6 cho biết Washington "lưu ý" thông báo của Trung Quốc rằng sẽ sớm hoàn tất hoạt động cải tạo trên Biển Đông trong những ngày tới.

Thông báo của bộ trên nêu rõ Mỹ lo ngại về việc Bắc Kinh dự tính tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng, gồm cả phục vụ mục đích quân sự, tại các bãi đá cải tạo phi pháp thuộc quần đảo Trường Sa. Trước đây, Washington từng nhiều lần kêu gọi Bắc Kinh ngừng xây đảo trái phép trên Biển Đông.

"Kế hoạch của Trung Quốc không góp phần giảm căng thẳng, không hỗ trợ việc tìm các giải pháp ngoại giao và hòa bình, cũng không củng cố tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc", một người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ hôm qua tuyên bố.

Bắc Kinh đã "tuyên bố chủ quyền" với gần như với toàn bộ diện tích Biển Đông - nơi có tiềm năng dầu khí và là tuyến đường hàng hải quan trọng bậc nhất. Mỗi năm có tới  5.000 tỷ USD hàng hóa được vận chuyển qua khu vực này.

Tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh chồng lấn lên vùng biển của một số quốc gia khác trong khu vực, trong đó có Việt Nam và Philippines. 

Gần đây, để đẩy mạnh yêu sách vô lý trên Biển Đông, Trung Quốc đã tiến hành cải tạo đảo phi pháp tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam nhằm xây dựng căn cứ quân sự và chiếm quyền kiểm soát hàng hải, bất chấp sự phản đối của Việt Nam và các nước trong khu vực, cũng như của Mỹ và các đồng minh.

Giới chức Mỹ trước đó từng công bố thông tin Bắc Kinh đã cải tạo hơn 6 km2 đất chỉ trong năm nay. Nhiều cơ sở quân sự, gồm một đường băng dài 3.000 m và hệ thống radar cảnh báo sớm được Trung Quốc thiết lập tại các diện tích bồi đắp, có thể được đưa vào hoạt động vào cuối năm nay.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm qua 16/6 tuyên bố Bắc Kinh sắp hoàn thành dự án cải tạo các bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, sẽ chuyển sang xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ mục đích dân sự và quân sự tại đây.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Khảng nhắc lại lập trường của Trung Quốc rằng việc xây dựng trên “quần đảo Nam Sa” (cái tên Trung Quốc dùng để gọi quần đảo Trường Sa của Việt Nam) nhằm phục vụ các nhu cầu dân sự như tìm kiếm và cứu nạn trên biển, cứu trợ thiên tai, bảo vệ môi trường và an ninh hàng hải, cùng các mục đích quân sự.

Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Trung Quốc không nói rõ hoạt động cải tạo tại khu vực nào trong số 7 bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam sắp hoàn tất.

Giới chuyên gia nhận định động thái thông báo kế hoạch kết thúc xây dựng của Trung Quốc có thể nhằm làm giảm căng thẳng ngoại giao trước thềm đối thoại thường niên với Mỹ.
 
Thoa Phạm
Theo BI

Monday, 8 June 2015

Chuyện bên lề chuyến công du ba châu lục của Thủ tướng

Xin giới thiệu cùng độc giả bài viết ghi lại những câu chuyện bên lề chuyến công du ba châu lục của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng qua con mắt quan sát của tác giả Xuân Ba.

Bắt taxi lên Nội bài lúc 2 giờ sáng để kịp chuyến chuyên cơ khởi hành lúc 4 giờ sáng như các phương tiện truyền thông đã loan, rạng sáng ngày 29-5 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã rời Hà Nội lên đường…, mấy anh em trong nhóm báo chí tháp tùng cũng phân vân sao Đoàn đi sớm vậy?
Ngày 29/5, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cùng đoàn đại biểu Việt Nam lên đường đi Kazakhstan tham dự Lễ ký chính thức Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu, thăm chính thức Algeria, Bồ Đào Nha và Bulgaria từ ngày 29/5-6/6/2015. (Chinhphu.vn)
Hóa ra sau mới hay, đi sớm cũng là để khớp, kịp với lịch trình công việc đã bày sẵn ở Kazakhstan. Đáp xuống sân nước bạn, phải xuyên qua thảo nguyên dằng dặc gần trăm cây số mới đến thành phố du lịch Burabai của Kazakhstan, nơi diễn ra Lễ ký Hiệp định thương mại Tự do (FTA) giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á-Âu. Burabai là nơi diễn ra cuộc hội tướng giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Thủ tướng các nước thành viên Liên minh Kinh tế Á-Âu, bao gồm Nga, Armenia, Belarus, Kazakhstan và Kyrgyzstan.
Lại phân vân sao 5 quốc gia lại dẫn nhau lên tít tận xứ Trung Á này để khai thông một chính sách kinh tế quan trọng liên quốc gia như thế nhỉ? Cứ lẩn thẩn giá như xe kít lại bên ngôi trại lều của dân du mục Ca-dắc và nghe đâu có cả người Tây Tạng, và thế nào cũng có một ly sữa ngựa thì “sướng rêm” theo cách nói của dân miền Trung xứ ta. Nhưng đâu có được!
Bữa trưa đơn giản nhanh gọn. Có lẽ cũng để chi dùng tiếp thời gian cho cuộc gặp với các Thủ tướng của Nga, Belarus, Armenia và chào xã giao ông Tổng thống nước chủ nhà Kazakhstan. Rồi liền đó là cuộc hội kiến với ngài Chủ tịch Ban thường trực Ủy Ban kinh tế Á-Âu và gặp lãnh đạo các nước Liên minh Kinh tế Á-Âu.
Trước khi Lễ ký diễn ra là tiết mục các đoàn trao tặng phẩm kỷ niệm. Để ý thấy Thủ tướng Nga Medvedev cứ mân mê con dấu của Văn phòng Thủ tướng Nga hồi lâu. Ông đang nghĩ, đang phân vân điều gì vậy? Thị trường Nga mênh mông nhưng điều gì lâu nay ngăn con cá basa, con tôm xứ Việt nhiệt đới ngon lành sang đó với dân tiêu dùng Nga đang rất cần?
Còn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang nghĩ gì vậy? Có thể nói là người khai mở sáng kiến đầu tiên, khi hồi thăm Nga cuối năm 2008, Thủ tướng đã gợi ý (hay là hối thúc ông BT Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng cũng được) là phải đưa cái câu sớm xúc tiến việc Việt Nam ký kết Hiệp định Thương mại tự do Á-Âu vào Tuyên bố chung. Bàn soạn để đồng thuận đưa vào đã khó, trên thực tế triển khai ra sao là cả những phức tạp, thậm chí cả những oái oăm nữa.
Lễ ký FTA Việt Nam - Liên minh kinh tế Á-Âu. (Ảnh:
Lễ ký FTA Việt Nam - Liên minh kinh tế Á-Âu. (Ảnh: VOV)
Nhưng may mắn thay, câu ấy trong văn kiện trong Tuyên bố chung đã không thành suông nhạt, bởi tuần vận của thế giới nay đã khác cũng như trình độ đàm phán của quan chức Việt hình như bây giờ đã khác? Cuối năm ngoái, qua 8 phiên đàm phán (4 ở Việt Nam và 4 tại nước ngoài), Lễ ký kết Tuyên bố chung kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan (VCUFTA) tại Phú Quốc.
Không biết hai vị Thủ tướng đã trao đổi những gì? Thị trường Nga, bao năm nay các doanh nhân Việt có thể nói trầy vi tróc vẩy vì những trục trặc không đáng có. Những rào cản hàng hóa cùng thuế quan thương mại… Trong 10 doanh nhân thì có 8 phải cố nhoi sang thị trường Ấu - Mỹ. Vì họ ngại. Giải phóng khai thông cho dòng hàng Việt đến thị trường 170 triệu dân tất nhiên là việc lợi cần làm.
Hình như có mối lợi hơn khó tính đếm, nói kiểu vui dân mình là “khó quy ra thóc”. Ban nãy trên chuyên cơ, tôi thoáng nghe ông Trần Bắc Hà Chủ tịch Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam (BIDV) có trình bày với Thủ tướng một dự án để hưởng ứng và triển khai FTA. Đó là việc thành lập một Khu kinh tế Việt Nga cách Matxcơva 50 cây số.
Tổ hợp ấy sẽ là dệt may, giày da, chế biến thủy hải sản. Và một điều nhân văn là hàng vạn lao động đen, cụm từ tức tưởi chỉ những người Việt không giấy tờ hợp pháp vốn đang phải sấp ngửa kiếm sống nhủi khắp nước Nga luôn đối diện với nguy cơ bị trục xuất bất cứ lúc nào, sẽ được tập hợp vào đây.
Rồi BIDV đương xúc tiến với Ngân hàng TƯ Nga tiến hành hình thức, thể thức thanh toán song phương đồng rúp và Việt Nam Đồng cho hợp lý, để thúc đẩy việc xuất nhập khẩu cũng như làm ăn của giới doanh nhân hai nước. Khi gạn hỏi thêm, ông Trần Bắc Hà thì ông cho hay, phía Nga đã đồng ý về nguyên tắc.
Chao ôi FTA, sẽ biến đi bao cái không đáng có của một thời? Nhiều thời? Đúng 6 giờ rưỡi chiều, khoảng nửa đêm giờ Việt, Lễ ký Hiệp định FTA diễn ra.
Cũng phải nhắc lại chút Hiệp định mang tính lịch sử này. Lịch sử bởi Việt Nam là quốc gia đầu tiên ký kết với một liên minh có tổng GDP lên tới 4.500 tỷ USD và một thị trường rộng lớn lên tới 170 triệu dân. Hiệp định này xem xét các vấn đề, chẳng hạn điều kiện tự do thuế quan trong việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia bằng cách giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu đối với hầu hết các mặt hàng có trong danh mục hàng hóa tham gia hiệp định.
Đó sẽ là một cơ may với Việt Nam, bởi Hiệp định này sẽ mở ra cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng như dệt may, giày dép, điện tử và đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản. Cụ thể, toàn bộ mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào liên minh này thuế sẽ về 0% ngay từ năm đầu tiên Hiệp định có hiệu lực, kể cả cá tra, basa, tôm… Một số mặt hàng nông sản khác như café đóng gói dưới 3kg, rồi chè của chúng ta cũng sẽ được hưởng nhiều ưu đãi.
Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam với Liên minh Kinh tế Á-Âu là hiệp định thế hệ mới, không chỉ tạo điều kiện để các bên tham gia tăng cường trao đổi, hợp tác kinh tế - thương mại, mà còn cho phép các quốc gia thành viên giải quyết vấn đề liên kết trong quá trình hội nhập khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tham gia Liên minh Kinh tế Á-Âu không chỉ củng cố nền kinh tế của các nước thành viên, thúc đẩy các nước xích lại gần nhau, mà còn góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các nước thành viên trên thị trường toàn cầu…
Gạn thêm các chuyên gia thì được biết, sau khi phê chuẩn Hiệp định, mỗi quốc gia có cách triển khai cụ thể sáng tạo của mình. Tất nhiên nhanh hơn những cái hao hao na ná như quy trình ban hành các văn bản luật ở xứ mình là phải có nghị định kèm theo thì mới triển khai trên thực tế!
Khu lều truyền thống dựng trong khu du lịch nước chủ nhà mến khách đang diễn ra cảnh kết thúc buổi chiêu đãi. Một đoàn nam thanh nữ tú tay cầm đàn dân tộc tiễn các vị khách Việt ra tận đường. Chợt nhớ phiên đàm phán cuối cùng ở Phú Quốc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng đích thân thao tác món bánh tráng cuốn cá lóc nướng trui, đưa tận tay mời các vị khách tham gia đàm phán.
Về đến nhà khách Rixoa Astana đã ba giờ sáng. Vậy là 25 tiếng đồng hồ kể từ khi xuất phát ở Nội Bài.
Sáng hôm sau đi tham quan Bảo tàng quốc gia Kazakhstan. Hơi bị ấn tượng, nói đúng hơn là bị choáng quy mô xây cất lần cung cách trưng bày cùng độ phong phú hiện vật. Hỏi ra thì ông Tổng thống đất nước 17 triệu dân này đã mời các chuyện gia giỏi như Nhật Pháp Anh… về xây cất bày đặt. Chợt chạnh cái niềm Bảo tàng Hà Nội mình mà bao năm cứ tất tả, loay hoay. Tổ quốc nhìn từ xa thường hay mồn một thêm những điều này điều nọ chăng?
(Còn tiếp)
Theo Xuân Ba
Vietnamnet

Nhật Bản nghi tàu Trung Quốc kéo cáp vào vùng đặc quyền kinh tế

Sáng 7-6, Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản xác nhận, một chiếc tàu Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động dường như là khảo sát bên trong khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) của Nhật Bản, ngoài khơi quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư ở Biển Hoa Đông. 

Tàu Nhật Bản theo sát tàu hải giám của Trung Quốc gần Senkaku/Điếu Ngư
Tàu Nhật Bản theo sát tàu hải giám của Trung Quốc gần Senkaku/Điếu Ngư
 
Đây là ngày thứ 3 liên tiếp, Nhật Bản phát hiện chiếc tàu có mặt trong khu vực này.

Các quan chức của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản cho biết các tàu tuần tra đã khẳng định rằng chiếc tàu của Trung Quốc đang chạy với tốc độ khoảng 60km/h ở phía bắc đảo Kuba. Con tàu này kéo theo một vật dường như là dây cáp và hình như đang tiến hành hoạt động khảo sát.

Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản đã yêu cầu con tàu phải dừng hoạt động này. Họ cho biết Nhật Bản không cho phép thực hiện các hoạt động khảo sát bất hợp pháp trong khu vực đặc quyền kinh tế.
 
Chính phủ Nhật Bản duy trì lập trường rằng quần đảo Senkaku là một phần lãnh thổ của Nhật Bản, nhưng Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền và gọi là Điếu Ngư.
 
Theo Mai Phương/NHK
An ninh Thủ đô

2 quân đội lớn nhất thế giới hợp tác "đối trọng" Trung Quốc

Tham vọng mở rộng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc trên khắp Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đã cảnh báo cả châu Á và khiến những quốc gia trong vùng cố gắng hết sức mình để kiểm soát sự trỗi dậy của Bắc Kinh.

Ấn Độ đã đặc biệt cảnh giác với tham vọng rõ ràng của Trung Quốc nhằm mở rộng vai trò và trở thành bên thống trị hàng hải trên Ấn Độ Dương.
Một liên minh quân sự hùng hậu?

Mối quan ngại về khả năng bị trở thành “sân sau” của Trung Quốc đã khiến Ấn Độ và Mỹ, 2 trong số những cường quốc quân sự lớn nhất trên thế giới, liên kết với nhau và ký kết một thỏa thuận hợp tác quân sự hứa hẹn sẽ cung cấp cho Ấn Độ những công nghệ quân sự “nhạy cảm” của Mỹ.
Theo tuyên bố của Bộ Quốc phòng Mỹ, thỏa thuận này đã “đồng ý tiến hành các cuộc thảo luận nhằm thúc đẩy hợp tác về động cơ phản lực, thiết kế và xây dựng tàu sân bay, cùng các lãnh vực khác.”
Tàu sân bay bản địa P-71 Vikrant của Ấn Độ rời khỏi bến Cochin vào ngày 21-8-2013
Tàu sân bay bản địa P-71 Vikrant của Ấn Độ rời khỏi bến Cochin vào ngày 21-8-2013

Ấn Độ hy vọng rằng sẽ hoàn thành 2 tàu sân bay bản địa với sự trợ giúp của Mỹ trong thập kỷ tới, mặc dù 1 trong số đó chưa qua khỏi giai đoạn lên kế hoạch. Sự hỗ trợ này sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ xây dựng cũng như đóng góp cho khả năng của các tàu sân bay tương lai trong hải quân Ấn.
 
Thêm vào đó, một trong những công nghệ tàu sân bay mà Ấn Độ quan tâm là Hệ thống cất cánh máy bay điện từ của máy bay General Atomics (EMALS). EMALS hoạt động đồng bộ với máy phóng hỗ trợ cất cánh nhưng bao gồm cả hệ thống phục hồi (CATOBAR), được dùng trong các tàu sân bay Nimitz-class hiện đại nhất trong đội tàu của Mỹ.
 
Công nghệ này sẽ cho phép tàu Ấn Độ phóng máy bay nhanh hơn và dễ dàng hơn so với các mẫu trước. Một hệ thống EMALS và CATOBAR cũng cho phép tàu sân bay của Ấn phóng một loạt máy bay chiến đấu hạng nặng và máy bay giám sát.
Thái độ sẵn sàng hợp tác với Ấn cho thấy sự bất an của Mỹ trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, kết quả là Mỹ đã thúc đẩy tạo thành một liên minh để giám sát ảnh hưởng đang mở rộng của Bắc Kinh.
Bắc Kinh ngày càng "phình to" chi phí quốc phòng
Trung Quốc đã liên tục tăng chi phí quân sự trong các năm gần đây. Vào năm 2014, Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm ước tính Bắc Kinh đã chi 216 tỉ USD vào quân sự, so với 610 tỉ của Mỹ và 50 tỉ của Ấn Độ.
Ngoài chi phí cho quân sự, Bắc Kinh đã liên tục đầu tư vào việc xây dựng cảng ở Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, và Miến Điện. Những cảng này cho phép tàu thương mại và tàu ngầm, tàu chiến Trung Quốc neo đậu an toàn trong cả Ấn Độ Dương.
Trung Quốc đã khiến Ấn Độ tăng cao cảnh giác khi cho đậu tàu ngầm tại cảng Colombo gần Sri Lanka, và họ quan ngại rằng Bắc Kinh – nói theo ngôn ngữ của tướng Ấn Độ Deepak Kapoor - đang cố gắng xây dựng một “chuỗi ngọc trai” trong Ấn Độ Dương nhằm thiết lập ưu thế hải quân và thương mại trong lãnh địa chiến lược của Ấn.
Ngoài các căn cứ hải quân, Trung Quốc còn làm Ấn Độ lo ngại thêm vì nước này tiếp tục mở rộng sức mạnh hàng hải nhờ phát triển các nhóm tàu sân bay tác chiến.
Hiện tại, Trung Quốc có tàu sân bay lớn nhất châu Á Liaoning, một tàu Xô Viết cũ dài 302 mét, có khả năng chở 50 máy bay hoặc trực thăng. Mặc dù kích thước khá đáng sợ, Liaoning là một chiếc tàu cũ dễ bị các vấn đề về cơ khí. Nó là một mẫu tàu sân bay thử nghiệm nhiều hơn là công cụ thực tế cho quân đội Trung Quốc.
Trung Quốc hy vọng khắc phục được vấn đề này bằng tàu sân bay bản xứ có thể hoạt động vào năm 2020. Hiện tại, chiếc tàu này đang còn trong giai đoạn phát triển, chưa được xây dựng.
Đội tàu sân bay của các nước châu Á...
Đội tàu sân bay của các nước châu Á...

Ấn Độ có vấn đề về tàu sân bay tương tự như Trung Quốc. Mặc dù nước này có 3 tàu, chiếc Viraat sẽ được “nghỉ hưu” vào năm tới, chiếc Vikrant mặc dù có kế hoạch ra mắt vào năm 2018 hoặc 2019 đã bị hoãn lại hàng năm vì lý do tài chính. Chỉ còn lại chiếc Vikramaditya hoạt động, mặc dù cũng như Liaoning, nó là tàu sân bay cũ của Xô Viết được tạo vào năm 1980, thường xuyên bị các vấn đề cơ khí.
Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của Mỹ, Ấn Độ có thể có một tàu sân bay mới hoạt động vào khoảng 10-12 năm tới.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã đẩy mạnh những tuyên bố chủ quyền bất hợp pháp của mình trên Biển Đông. Mặc dù Ấn Độ không có biên giới trực tiếp với biển này, New Delhi có mối quan tâm về những lợi ích thương mại cũng như khai thác dầu trong khu vực. Tuyên bố hung hãn của Bắc Kinh phá vỡ cả 2 lợi ích này và khiến Mỹ tạo nên một liên minh quốc tế buông lỏng tại trục Thái Bình Dương của nước này.
Cho đến nay, Trung Quốc đã xây dựng trái phép được hơn 1,5 dặm diện tích đảo nhân tạo trên các rặng san hô trong Biển Đông. Theo Reuter, Bắc Kinh đã hoàn thành phần xây dựng 6 đảo trên biển, và đang bắt đầu xây dựng đảo thứ 7.
 
Theo Bích Thảo/Business Inside
Pháp luật TPHCM

Nhật Bản sẽ tập trận chung với Mỹ và Úc

Mỹ mong muốn các đồng minh đóng góp vai trò tích cực hơn trong nhiệm vụ tuần tra trên Thái Bình Dương. Với mục đích đó, Mỹ và Úc cùng với Nhật Bản sẽ tiến hành cuộc tập trận Talisman Sabre dự kiến vào tháng 7 tới đây.

T
T
ập trận Talisman Sabre đất liền. (Ảnh: NT’News)

Talisman Sabre là cuộc tập trận mà Mỹ và Úc tổ chức 2 năm một lần quy tụ ít nhất 30.000 quân tham gia. Talisman Sabre thường được tiến hành ngoài khơi Úc và cả trong lãnh thổ nước này, có sự tham gia của các lực lượng chiến thuật đặc nhiệm, hoạt động hàng hải, đổ bộ và chiến đấu trong khu đô thị.

Cuộc tập trận Talisman Sabre năm nay sẽ được tiến hành vào tháng 7 tới và có sự tham gia của 500 quân New Zealand và 40 sĩ quan chỉ huy và lính chiến đấu Nhật Bản.

“Tôi nghĩ Mỹ đang cố lôi kéo các đồng minh hành động tích cực hơn, tạo thành trục đối xứng với Nhật Bản là đồng minh tin cậy ở Tây Thái Bình Dương và Úc ở Nam Thái Bình Dương.” Euan Graham, Giám đốc Chương trình An ninh quốc tế của Viện Lowry tại Sydney nhận xét.

Đây là hoạt động theo kế hoạch mà Washington muốn thúc đẩy nhằm kéo Tokyo nắm giữ vai trò lớn hơn trong nhiệm vụ tuần tra trên Thái Bình Dương. Trước đó, chính phủ Nhật Bản đã thông qua đề xuất của Thủ tướng Shinzo Abe cho phép Nhật Bản mở rộng phạm vi hoạt động của quân đội ra ngoài lãnh thổ.

Các chuyên gia đánh giá những động thái này là sự đáp trả mối đe dọa từ phía Trung Quốc, đặc biệt là từ sau khi nước này tiến hành xây dựng các đảo nhân tạo trong khu vực quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Vùng biển tranh chấp nóng bỏng này được đánh giá là có một khối lượng hàng hóa đến 5.000 tỷ USD lưu thông qua lại mỗi năm. Vì lẽ đó, Mỹ và các đồng mình đặc biệt lo ngại rằng các đảo nhân tạo này sẽ được sử dụng để đạt mục tiêu kiểm soát Biển Đông.

Thời gian gần đây, Mỹ liên tục tiến hành các cuộc tập trận quân sự với nhiều quốc gia là những bên tranh chấp ở Biển Đông là Philippines và Indonesia. Mỹ cũng đã tuyên bố có thể sẽ bắt đầu tuần tra thường xuyên khu vực quần đảo Trường Sa, một động thái mà Bắc Kinh phản đối kịch liệt.

Tập trận Talisman Sabre trên biển (Ảnh:
Tập trận Talisman Sabre trên biển (Ảnh: Navaltoday.com)

Bất chấp các ý kiến từ phía Trung Quốc, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Gen Nakatani khẳng định Tokyo tham gia cuộc tập trận Talisman Sabre là vì lợi ích chung của Nhật Bản mong muốn tăng cường mối quan hệ với các đồng minh của mình chứ không có gì liên quan đến Trung Quốc cả.
Theo Thủ tướng Nhật Shinzo Abe, mối hợp tác này đã đạt đến một tầm cao mới thể hiện qua việc Nhật gần như chắc chắn sẽ là nhà cung cấp các tàu ngầm mới để đáp ứng yêu cầu nâng cấp hải quân của Úc. Sự hợp tác này được Mỹ ủng hộ mạnh mẽ.

"Để mở rộng phạm vi của liên minh, chúng tôi đang đẩy mạnh hợp tác ba bên ở một mức độ chưa từng có.” Đó là nội dung Thứ trưởng Quốc phòng David Shear báo cáo Thượng viện Mỹ mới đây. "Trong một số trường hợp, sự hợp tác này có tác dụng trực tiếp đến hoạt động an ninh hàng hải của chúng ta. Ví dụ như chúng tôi đang hợp tác 3 bên cùng Nhật Bản và Úc để tăng cường an ninh hàng hải ở Đông Nam Á và khai thác hợp tác công nghệ quốc phòng.”

Khi được hỏi về thái độ của Trung Quốc đối với những động thái này, bà Hoa Xuân Oánh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, lớn tiếng như thường lệ “chúng tôi tin rằng các nước liên quan nên cùng nhau đóng vai trò chủ động và xây dựng để củng cố sự tin cậy lẫn nhau và hợp tác giữa các nước trong khu vực”.
Uyên Châu
Theo Sputnik

Nga đẩy mạnh xây dựng quân sự tại nhóm đảo tranh chấp với Nhật

Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu ngày 9/6 hạ lệnh cho quân đội nước này đẩy mạnh công tác cây dựng cơ sở quân sự và dân sự tại các đảo phía nam quần đảo Kuril ở Thái Bình Dương, nơi Mátxcơva và Tokyo từ lâu đã có tranh chấp.

Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu. (Ảnh:Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu. (Ảnh: RT)

Báo giới Nga dẫn lời Bộ trưởng Shoigu đưa ra tuyên bố trên tại thành phố Vladivotok thuộc miền viễn đông Nga  khi đang thị sát tại quân khu miền đông, Bộ Quốc phòng Nga thông báo và không nêu thêm chi tiết. 

Tranh chấp lãnh thổ tại quần đảo Kuril (theo cách gọi của người Nga) và Lãnh thổ phương Bắc (theo cách gọi của người Nhật), luôn là cái gai trong mối quan hệ giữa hai nước kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Quần đảo Kuril, nằm ở vùng Sakhalin của Nga, hình thành nên một biển đảo núi lửa kéo dài 1.300 km từ Hokkaido, Nhật Bản, tới Kamchatka, Nga, phân chia biển Okhotsk với Bắc Thái Bình Dương.

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945, quân đội Liên Xô nắm quyền kiểm soát toàn bộ quần đảo Kuril nhưng Nhật vẫn đòi quyền sở hữu 4 hòn đảo ở cực nam là Kunashir, Iturup, Shikotan, và Habomai - được gọi chung là Lãnh thổ phương Bắc.

Hiệp ước hòa bình San Francisco giữa các lực lượng đồng mình và Nhật Bản năm 1951 nói rằng Nhật Bản phải từ bỏ quyền sở hữu các hòn đảo Kuril, nhưng cũng không công nhận chủ quyền của Liên bang Xô Viết đối với quần đảo Kuril.

Tranh chấp chủ quyền nhóm đảo giữa Nga và Nhật khiến hai nước không thể ký hiệp ước hòa bình chính thức kết thúc tình trạng đối đầu trong Chiến tranh thế giới thứ hai,

Trong những năm gần đây, Mátxcơva từng nhiều lần kịch liệt phản đối sau khi chính quyền Nhật Bản tiến hành những chuyến thăm tới các đảo này, đồng thời đẩy mạnh công tác  xây dựng tại đó. Lập trường của phía Tokyo là Lãnh thổ phương Bắc là một phần không thể thiếu của lãnh thổ Nhật Bản và rằng Nga phải chuyển giao các đảo này về cho phóa Nhật.

Thoa Phạm 
Tổng hợp

Những ông trùm buôn người ở Đông Nam Á (*): “Đại ca” Tong

Một nhân vật có biệt danh “Đại ca” Tong, kẻ bị tình nghi là ông trùm đường dây buôn người Rohingya, đã tự nộp mình cho cảnh sát Thái Lan hôm 18-5 nhưng tuyên bố chỉ khai sự thật trước tòa.

Những ông trùm buôn người ở Đông Nam Á (*): “Đại ca” Tong

Bộ Ngoại giao Mỹ từng lưu ý chính phủ Thái Lan: Một số nhân vật trong quân đội và chính quyền địa phương dính líu đến các đường dây buôn người và đưa người trái phép xuyên quốc gia. Đối tượng chủ yếu của những đường dây này là người Rohingya và Bangladesh.
Thảm họa nhân đạo
Bangkok trước đây phủ nhận mọi cáo buộc của các tổ chức nhân quyền và các nhà quan sát quốc tế cho rằng nhiều viên chức Thái Lan, kể cả quân đội và cảnh sát, đã nhắm mắt làm ngơ trước tệ nạn buôn người trên đất mình. Thậm chí, một số người còn đứng ra bảo kê hoặc trực tiếp điều hành các đường dây tội phạm. Họ đã gây ra bao thảm cảnh trên đất Thái Lan và trên biển đối với người Rohingya và Bangladesh.
“Đại ca” Tong (
“Đại ca” Tong (áo trắng). (Nguồn: CHIANGRAITIMES)
Thế nhưng, mọi sự đã thay đổi theo chiều hướng tích cực từ đầu tháng 5 vừa qua. Cả chục mồ cạn chôn vùi vội vã thi thể dân nhập cư lậu người Rohingya và Bangladesh đã được phát hiện. Trước đó, chính quyền địa phương cũng thông báo phát hiện nhiều trại giam bí mật trong rừng và trên các đảo hẻo lánh, tất cả đều ở miền Nam Thái Lan, giáp ranh với Malaysia.
Trước tình hình nêu trên, chính phủ Thái Lan đã mở chiến dịch chống buôn người và đưa người trái phép xuyên biên giới. Đối tượng bị điều tra bao gồm cả quân đội, cảnh sát, cơ quan nhà nước lẫn ngoài xã hội.
“Bứt dây động rừng”, các tổ chức buôn người “chém vè”, lặn sâu. Chúng tháo chạy khỏi các trại giam bí mật khiến hàng trăm tù nhân người Rohingya và Bangladesh lâm vào cảnh đói khát. Trên biển thì xảy ra thảm họa nhân đạo: Hơn 2.000 “thuyền nhân” bị bỏ rơi trong vùng lãnh hải Malaysia và Indonesia trên những con tàu gỗ đã cạn nhiên liệu, thực phẩm.
Đến nay, hơn 80 trát lệnh bắt giữ đã được phê chuẩn. Trong số này có Pajjuban Angchotephan, một doanh nhân và chính khách tên tuổi với biệt danh là Ko (đại ca) Tong. Nhân vật thứ hai là trung tướng Manus Kongpan. Cả hai đều chọn cách tự thú để đối phó với pháp luật. “Đại ca” Tong tự thú ngày 18-5 sau một tuần biết mình đang bị truy nã qua báo chí, còn trung tướng Manus tự thú ngày 3-6. Cả 2 trường hợp đều được truyền thông trong nước và quốc tế quan tâm đặc biệt vì đây là lần đầu tiên, các ông trùm đường dây buôn người và đưa người trái phép xuyên biên giới của Thái Lan lộ mặt, đương đầu với pháp luật.
Trung tướng Prawut Thavornsiri, người phát ngôn Cảnh sát Thái Lan, cho biết Ko Tong chính thức nộp mình ở Bangkok sáng 18-5. Ko Tong được chở từ tỉnh Satun, quê hương y, đến sân bay Don Mueang từ sáng sớm. Tại đây, theo thông lệ, y xuất hiện trong một cuộc họp báo ngắn của cảnh sát. Nhân dịp này, trước ống kính truyền hình, tướng Somyot Poompanmoung, Chỉ huy trưởng Cảnh sát Thái Lan, bác bỏ tin đồn cảnh sát đã bí mật thương lượng với Ko Tong trước khi y đầu thú.
Trước đó, Ko Tong tung tin đã liên hệ với trung tướng Chakthip Chaijinda, phó chỉ huy trưởng cảnh sát, để dàn xếp cuộc tự thú. “Đại ca” yêu cầu được đóng tiền tại ngoại nhưng bất thành; đồng thời, cũng có tin nhiều viên chức cảnh sát cao cấp đề nghị hợp sức với chính quyền Malaysia truy bắt Ko Tong sau khi có tin đồn y bỏ xứ Satun chạy qua nước này ẩn náu tại khu nghỉ dưỡng Langkawi nổi tiếng. Cảnh sát Thái cho biết đã nhận được trát lệnh bắt giữ Thassanee, vợ của Ko Tong và trung úy cảnh sát Narathorn Samphan dính líu đến đường dây buôn người.
Truyền thông Thái Lan, dẫn nguồn tin giấu tên, cho biết Ko Tong phủ nhận mọi cáo buộc và chỉ chịu khai sự thật trước tòa án. Nếu xét thấy có tội, Ko Tong có thể bị kết án từ 4-15 năm tù và bị phạt 1 triệu baht (643,65 triệu đồng).
Chính khách có máu mặt
Tỉnh Satun ở miền Nam Thái Lan, nổi tiếng là trạm trung chuyển của bọn buôn người qua Malaysia và Indonesia theo đường bộ lẫn đường biển. Ko Tong là một chính khách được nhiều người biết tiếng. Theo ông Dejrat Simsiri, Tỉnh trưởng Satun, Ko Tong từng lãnh đạo một đảng chính trị, có nhiều mối quan hệ với chính quyền địa phương và một số nhà lãnh đạo trong chính phủ. Nhờ vậy mà “đại ca” trốn tránh pháp luật được lâu như vậy.
Theo ông Samsiri, Ko Tong từng được bầu vào cơ quan chính quyền tỉnh và giữ chức chủ tịch cách đây 10 năm nhưng sau đó thất cử nên không làm nữa. Trong thời gian tại chức, y quan hệ chặt chẽ với chính quyền địa phương huyện Padang Besar, nơi gần đây phát hiện các mồ chôn di dân Rohingya và Bangladesh. Ko Tong có nhiều đất đai ở Rat Yai, một hòn đảo nhỏ gần Malaysia. Người dân Satun cho rằng đảo này là “căn cứ địa” của Ko Tong. “Bất cứ tàu thuyền nào đi gần đảo đều bị những người lạ mặt đi tàu cao tốc xua đuổi” - một người giấu tên cho biết.
Thiếu tướng Paveen Pongsirin, phó tư lệnh vùng, cho hay Ko Tong dùng đảo Yat Rai để điều hành đường dây buôn người ở Satun. Cảnh sát vẫn đang tiếp tục điều tra chuyên án này với nhiều chứng cứ chống lại Ko Tong. 18 người liên quan đến vụ này đã bị bắt. Tướng Paveen xác nhận Ko Tong là một người rất giàu. Cảnh sát đã tịch thu tài sản của y trị giá hàng chục triệu baht.
Vua một cõi
Buôn người và đưa người trái phép xuyên biên giới ở Đông Nam Á có lợi nhuận rất lớn. Chuyên gia Matthew Smith ở công ty tư vấn Fortify Rights cho biết: “Hầu hết các tay buôn người ở Myanmar và Malaysia khẳng định rằng các ông trùm Thái làm vua một cõi”. Riêng năm 2012, ngành kinh doanh tội ác này ước tính đạt 250 triệu USD. Số tiền này khiến nhiều người Thái trở nên giàu có, tiền mặt dồi dào dùng để bôi trơn những nơi cần thiết.
Đóng góp vào doanh thu “khủng” nêu trên là những người Rohingya ở bang Rakhine - Myanmar. Những người không quốc tịch, không có tổ quốc này đưa tiền cho bọn buôn người để lên thuyền xuôi về phía Nam với hy vọng tìm một nơi ở mới thân thiện hơn. Báo cáo của Liên Hiệp Quốc cho biết trong 3 tháng (từ tháng 1 đến tháng 3-2015), khoảng 25.000 người Rohingya và Bangladesh nghèo khổ đã vượt biển qua vịnh Bengal. Trong đó, vài ngàn di dân đã bị bọn buôn người bỏ rơi trên biển sau khi chính quyền Thái Lan mở chiến dịch trấn áp các tổ chức buôn người.
(Kỳ tới: Bần cùng sinh đạo tặc)
Theo Nguyễn Cao
Người Lao động

G7 nhấn mạnh quan ngại về Biển Đông trong tuyên bố chung

Kết thúc hai ngày họp tại miền Nam nước Đức, lãnh đạo Nhóm 7 nền công nghiệp phát triển (G7) đã ra tuyên bố chung đề cập toàn diện đến nhiều vấn đề quốc tế, trong đó đặc biệt nêu quan ngại về những căng thẳng ở Biển Đông và Hoa Đông.

G7 nhấn mạnh quan ngại về Biển Đông trong tuyên bố chung
Căng thẳng ở Biển Đông và Hoa Đông là một trong những chủ đề được các nhà lãnh đạo G7 dành nhiều thời gian thảo luận (Ảnh: RT)
Bản tuyên bố của G7 dài 23 trang, nhấn mạnh quyết tâm hợp tác chặt chẽ trên cơ sở những giá trị và nguyên tắc chung nhằm giải quyết các thách thức về chính trị và kinh tế quốc tế.
Về an ninh hàng hải, Tuyên bố chung của G7 nêu rõ cần phải duy trì trật tự hàng hải theo luật pháp quốc tế, cũng như bảo đảm an ninh hàng hải quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Theo các nhà lãnh đạo G7, những diễn biến căng thẳng trên Biển Đông và Hoa Đông hiện nay “rất đáng quan ngại”. Do đó, cần phải giải quyết xung đột một cách hòa bình để bảo đảm tự do hàng hải và khai thác kinh tế biển một cách hợp pháp.
G7 cũng cương quyết phản đối mọi hình thức đe dọa, cưỡng ép, sử dụng vũ lực hoặc hành động đơn phương nhằm thay đổi nguyên trạng ở các vùng biển như việc mở rộng các đảo nhân tạo quy mô lớn thời gian gần đây ở Biển Đông.  
Liên quan đến cuộc khủng hoảng Ukraine, G7 ủng hộ cơ chế làm việc thông qua nhóm "Bộ tứ Normandy" (gồm Nga, Ukraine, Pháp và Đức) và nhóm làm việc 3 bên (gồm Nga, Ukraine và Tổ chức An ninh và hợp tác châu Âu - OSCE).
G7 khẳng định mạnh mẽ lập trường không công nhận việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea, đồng thời hối thúc các bên thực thi đầy đủ thoả thuận Minsk đạt được ngày 12/2 nhằm tìm lối thoát cho cuộc khủng hoảng dai dẳng tại Ukraine.
Ngoài ra, tuyên bố bế mạc của 7 nước công nghiệp hàng đầu thế giới cũng đề cập đến vấn đề kinh tế, vấn đề hạt nhân Iran, tình hình Libya, chiến chống khủng bố và chống biến đổi khí hậu.
Vũ Anh
Theo AP

Campuchia sẽ tổ chức lễ tang chính thức ông Chea Sim vào 19/6

Campuchia sẽ tổ chức lễ tang chính thức ông Chea Sim, Chủ tịch Thượng viện, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia (CPP), vừa qua đời chiều 8/6, vào ngày 19/6.

Ông Chea Sim, Chủ tịch Thượng viện, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia. (Nguồn:
Ông Chea Sim, Chủ tịch Thượng viện, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia. (Nguồn: AP)
Theo thông tư hướng dẫn của Chính phủ Hoàng gia Campuchia do Thủ tướng Hun Sen ký đêm 8/6, vào ngày 19/6, tất cả các cơ quan, ban ngành, trường học, bệnh viện của nhà nước, cơ sở tư nhân và các công chức, các lực lượng vũ trang, các chùa cùng toàn thể nhân dân trong cả nước đều treo cờ rủ. Tất cả các đài phát thanh, truyền hình nhà nước và tư nhân phải ngừng các chương trình biểu diễn và phát các chương trình có tính chất giải trí vào ngày 19/6.
Thông tư nêu rõ ông Chea Sim “đã suốt đời hy sinh cả sức lực và tinh thần cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, đặc biệt trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi chế độ diệt chủng năm 1979 và tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ngày càng phát triển, thịnh vượng như hiện nay.”
Tối 8/6, Thượng viện, Quốc hội, Chính phủ Hoàng gia và Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) đã ra thông báo chính thức cho biết ông Chea Sim từ trần vào lúc 15 giờ 45 phút ngày 8/6/2015, hưởng thọ 83 tuổi./.
 
Theo (Vietnam+)

Sóng biển Đông trong chuyến công du của Thủ tướng

Trùng vào thời điểm chuyến thăm này của Thủ tướng, dư luận trong và ngoài nước sôi sục theo những diễn biến mới về hoạt động bồi lấp, xây dựng đảo nhân tạo bất hợp pháp của TQ.

LTSXin giới thiệu cùng độc giả Phần 2 bài viết ghi lại những câu chuyện bên lề chuyến công du ba châu lục của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng qua con mắt quan sát của tác giả Xuân Ba.
Ngày 29/5, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cùng đoàn đại biểu Việt Nam lên đường đi Kazakhstan tham dự Lễ ký chính thức Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu, thăm chính thức Algeria, Bồ Đào Nha và Bulgaria từ ngày 29/5-6/6/2015. (Chinhphu.vn)
Còn nhớ một tài liệu nói về những chuyến công du nước ngoài của Tổng thống Pháp J. Sirak đi đâu cũng mang theo hàng trăm doanh nhân. Tới đâu ông cũng hãnh diện giới thiệu đây là những người làm ăn giỏi nhất của nước Pháp và cả thế giới! Cũng là cái cách tiếp thị quảng bá, đồng thời là cú hích của người đứng đầu quốc gia đối với việc làm ăn của giới doanh nhân từng làm nên thương hiệu nước Pháp.
Cũng có biết loáng thoáng việc làm ăn của Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) và PVN đang tích cực thực thi có hiệu quả chính sách đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia với việc hợp tác tìm kiếm thăm dò khai thác ở nước ngoài, đặc biệt có hiệu quả ở Algeria.
Có lẽ ông Chủ tịch Nguyễn Xuân Sơn và những thành viên của PVN đã “gặp hên”. Ấy là khi đến thăm và làm việc ở Tập đoàn dầu khí quốc gia Sonatrach mà PVN liên doanh nhiều năm nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đặt thẳng vấn đề với ông Thủ tướng Algeria và tập thể lãnh đạo Tập đoàn rằng Sonatrach nên tạo điều kiện thuận lợi để PVN được triển khai tiếp việc khai thác ở ngay khu vực mỏ (Bir Sebarr) mà PVN đã phát hiện và khơi dòng dầu đầu tiên.
Ngay sau đó đề nghị của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã được chuẩn thuận.
Với thời gian khai thác kéo dài trong 25 năm, liên doanh sẽ có sản lượng dầu thương mại khoảng 30 triệu tấn (tương đương 200 triệu thùng). Theo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, với tỷ lệ 40% trong liên doanh, Việt Nam sẽ thu về mỗi năm 100 - 150 triệu USD doanh thu bán dầu và sau 6 năm sẽ hoàn vốn đầu tư vào dự án này.
Kiểu gì thì cũng phải nhắc phải nhớ đến kim ngạch thương mại hai chiều trong những chuyến thăm như thế này. Kim ngạch 240 triệu USD ở Bồ Đào Nha và và ngót 100 triệu USD ở Bulgaria như vẫn nói thật quả chưa tương xứng với mối quan hệ chính trị tốt đẹp.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Bồ Đào Nha Pedro Passos Coelho tại cuộc họp báo. (Ảnh:
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Bồ Đào Nha Pedro Passos Coelho tại cuộc họp báo. (Ảnh: TTXVN)
Vậy nên trong buổi gặp với doanh nhân hai nước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sôi nổi và quyết liệt như một người trong cuộc truy tìm những bất cập đã cản trở. Như với giới thương gia Bồ Đào Nha, Thủ tướng chỉ lẩy ra một ví dụ là nêu bật thế mạnh cùng hướng cùng nằm kề biển của hai quốc gia, ngoài địa lý còn có nhiều nét tương đồng về kinh tế biển… Tự hào với truyền thống 40 năm quan hệ ngoại giao 500 năm quan hệ giao thương đã có giữa 2 nước sẽ giúp chúng ta tìm câu trả lời.
Bận cuộc gặp với Chủ tịch Quốc hội, ông giao cho Bộ trưởng Bùi Quang Vinh ngồi tiếp với doanh nhân hai nước truy và tầm tiếp nguyên nhân và bàn soạn những việc làm ăn khả thi để đưa kim ngạch hai chiều lên 1 tỷ USD/ năm.
Nguyên nhân cùng duyên do nhiều cái nằm ngoài tầm với của doanh nhân? Ấy là khi tôi ngồi với ông Trần Kim Trung, Lãnh sự danh dự Bồ Đào Nha tại Hà Nội. Ông cho biết hiện Bồ Đào Nha chưa có sứ quán tại Việt Nam và Việt Nam cũng vậy, nên việc đi lại và xử lý các công việc của doanh nhân hai nước còn gặp nhiều khó khăn. Hiện tất cả các visa đi Bồ Đào Nha phải ủy quyền cho Đại sứ bên Đức thực hiện.
Rồi với thị trường Bulgaria, kim ngạch hai chiều tuy năm sau cao hơn năm trước nhưng vẫn lẹt đẹt chưa vượt nổi con số 100 triệu USD. Trong khi đó bạn sẵn sàng nhường đất cho thuê đất để xây cơ sở chế biến những sản phẩm thô từ Việt Nam thành tinh, đẩy mạnh việc xuất khẩu, nhưng vẫn chưa thấy động tĩnh gì, thì lỗi tại ai và ở khâu nào vậy?
Gặp gỡ với bà con Việt kiều các nước sở tại trong chuyến thăm, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bộc bạch với bà con, mà tôi biết trong số họ đa phần là doanh nhân đang làm ăn ở xứ người. Mà đã là doanh nhân thì thường là đồng cảm ngay với những thông tin đại loại như tạo ra doanh số 1 tỷ USD là đi kèm với việc giải quyết cho hơn 300 ngàn lao động. Rằng khi FTA được thực thi, những dạng bảo hộ nhà nước không còn nữa, các doanh nghiệp Việt Nam phải nhanh chóng có bản lĩnh để trụ vững.
Các cụ mình nói buôn có bạn bán có phường. Bạn hay phường phải có phải giữ chữ tín khi làm ăn bất cứ đâu nhất là xứ người. Cung cách không thực thà coi thị trường xứ người là dễ tính, là “ngố” rồi làm ăn kiểu chụp giựt, bán phá giá rồi “một cá năm đá” là cái cách tự loại mình khỏi cuộc chơi, v.v…
Rồi cách yêu nước của bà con Việt kiều cũng được Thủ tướng đề cập với độ mở phong phú. Ngoài học giỏi ra, đó là biết dạy cho con cháu thạo và giữ tiếng Việt, hoặc cùng nhau bày tỏ thái độ trước hành động ngang ngược bồi đắp tôn tạo đảo xâm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam…
Cuộc hẹn gặp với bà con Việt kiều tại Algeria đã quá thời gian mười lăm, ba mươi phút rồi một tiếng. Nhiều người sốt ruột liên tục coi đồng hồ. Tất cả phải đợi Thủ tướng đang có cuộc hội kiến với Tổng thống Algeria, Abdelaziz Bouteflika. Nhiều người phập phồng ý nghĩ, không rõ cuộc hội kiến có diễn ra? Bởi sức khỏe của vị Tổng thống dạo này không được tốt, ông vừa may mắn thoát khỏi tai biến. Rồi ba mươi phút nữa trôi qua. May quá, đoàn xe của Thủ tướng đã tới.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến Tổng thống Algeria Abdelaziz Bouteflika. (Ảnh:
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến Tổng thống Algeria Abdelaziz Bouteflika. (Ảnh: TTXVN)
Sau này được Thủ tướng chia sẻ thêm thông tin, chúng tôi mới hay để giữ sức khỏe cho Tổng thống, Thủ tướng dự định cũng chỉ qua thăm có tính chất chào xã giao. Nhưng tôi đồ rằng, việc Thủ tướng chuyển món quà của bà Nguyễn Thị Bình cho Tổng thống Abdelaziz Bouteflika đã làm bừng thêm cái tên Việt Nam trong tâm thức Tổng thống.
Từng là bạn bè chí cốt thời gian Abdelaziz Bouteflika làm Bộ trưởng Bộ ngoại giao dưới thời Tổng thống Boumedien, Bouteflika và bà Bình đã có nhiều cuộc gặp gỡ làm việc. Xuyên suốt các cuộc gặp là âm hưởng sục sôi ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược.
Ông đã dẫn bà Bình đến gặp nhiều sĩ quan của bộ khung sĩ quan cấp tiểu đoàn trong số hơn 500 hàng binh lê dương người Algeria, được Tướng Giáp đào tạo tại Việt Nam trở về cuối những năm 1950, tăng cường cho Mặt trận giải phóng nhân dân Algeria (FLA). Cũng như Bộ trưởng Bộ ngoại giao Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình được tiếp xúc với những yếu nhân Algeria đỡ đầu cho Tiểu đoàn Algeria chiến thắng ở Bồng Sơn, Quảng Ngãi. Cây bút bà Bình ký Hiệp định Paris tặng khi ấy được Tổng thống Abdelaziz Bouteflika giữ đến tận bây giờ. 
Vậy nên cuộc thăm chào xã giao dự định chỉ ít phút đã kéo dài ra ba mươi rồi một tiếng. Rồi một tiếng rưỡi. Để giữ sức khỏe cho Tổng thống, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ái ngại đã bốn lần đứng lên rồi lại phải ngồi xuống theo đề nghị rất thuyết phục của Tổng thống.
Trùng vào thời điểm chuyến thăm này của Thủ tướng, dư luận trong và ngoài nước sôi sục theo những diễn biến mới nhất đáng báo động về hoạt động bồi lấp, xây dựng đảo nhân tạo bất hợp pháp và quân sự hóa 7 bãi đá Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp của Việt Nam từ năm 1988, 1995. Chính phủ, mà đứng đầu là Thủ tướng các quốc gia mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gặp gỡ hội kiến, đều bày tỏ sự lo ngại và đồng cảm với Việt Nam, rằng mọi bất đồng đều phải giải quyết theo biện pháp hòa bình, tránh xung đột vũ trang.
Tại Không gian diễn đàn kinh tế Biển của Bồ Đào Nha hàng năm, sau khi cùng Thủ tướng nước chủ nhà cắt băng khai mạc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu: “Chúng ta không thể hợp tác kinh tế biển thành công nếu an ninh, an toàn, tự do hàng hải bị đe dọa”. Thủ tướng kêu gọi các quốc gia cùng nhau hợp tác phát triển kinh tế biển và cùng nhau giữ gìn môi trường biển và an ninh, an toàn, tự do hàng hải.
Trong cuộc hội kiến với Thủ tướng Bồ Đào Nha, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề nghị các cơ quan có trách nhiệm của Bồ Đào Nha tạo điều kiện cho các cơ quan chức năng của Việt Nam tìm hiểu tư liệu Bồ Đào Nha đang lưu giữ, nhất là các bản đồ mà những giáo sĩ Bồ Đào Nha và giáo sĩ nhiều nước đã họa từ thế kỷ 16 để phục vụ cho công tác chủ quyền biển đảo hiện nay của Việt Nam. Thủ tướng Bồ Đào Nha vui vẻ nhận lời.
“Được lời như cởi tấm lòng”, đề nghị của Thủ tướng đã mở ra triển vọng thuận lợi khả quan cho giới nghiên cứu. Riêng tôi, trước đó qua anh bạn là Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn ở Trung tâm nghiên cứu Cố đô Huế, được biết tại Thư khố quốc gia Bồ Đào Nha (Arquivo Nacionnal da Torre do Tombo) hiện lưu trữ nhiều tài liệu quý trong đó có những bức họa về Paracel/ Hoàng Sa và đã có liên lạc trước thời điểm này ít ngày với Trung tâm thư khố (tương tự như cơ quan Trung tâm Lưu trữ Quốc gia bên ta).
Rạng sáng ngày 7/6, chuyên cơ bắt vào không phận Nội Bài. Đi rạng sáng về cũng rạng sáng. Như rạng ra điều gì đó của ánh ngày!
Theo Xuân Ba
Vietnamnet

Malaysia khiếu nại Trung Quốc xâm phạm lãnh hải

Trước hành vi ngang nhiên xâm phạm lãnh hải của Trung Quốc, chính phủ Malaysia ngày 8/6 khẳng định sẽ bày tỏ sự phản đối qua đường ngoại giao, và thủ tướng nước này sẽ trực tiếp thảo luận vụ việc với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Một tàu tuần tra bờ biển Trung Quốc từng xâm phạm lãnh hải Malaysia năm 2014 (Ảnh: Getty)
Một tàu tuần tra bờ biển Trung Quốc từng xâm phạm lãnh hải Malaysia năm 2014 (Ảnh: Getty)
Thông tin được Bộ trưởng an ninh nội địa Malaysia Shahidan Kassim khẳng định với báo giới địa phương trong ngày thứ Hai.
Tuyên bố trên được đưa ra sau khi một tàu của lực lượng tuần tra bờ biển Trung Quốc bị phát hiện đi vào vùng biển phía Bắc đảo Borneo, của Malaysia hồi tuần trước.
Đây được xem như hành động bày tỏ thái độ hiếm hoi của Malaysia, sau thời gian dài kín tiếng trước những tranh chấp liên quan đến chủ quyền biển đảo trong khu vực, giữa Trung Quốc và các thành viên ASEAN khác.
“Đây không phải khu vực có những tuyên bố chủ quyền chồng lấn. Trong trường hợp này, chúng tôi sẽ có hành động ngoại giao”, Bộ trưởng Shahidan Kassim khẳng định, và cho biết thêm, thủ tướng Malaysia Najib Tun Razak dự kiến sẽ trực tiếp thảo luận vấn đề này với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Hồi tuần trước, ông Kassim đã đăng tải trên Facebook của mình những hình ảnh cho thấy một tàu tuần tra bờ biển Trung Quốc thả neo tại bãi cạn Luconia, khu vực cách đảo Borneo của Malaysia chừng 150km về phía Bắc, nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia. Đáng chú ý là bãi cạn Luconia cách Trung Quốc đại lục tới hơn 2000km.
Bộ ngoại giao Trung Quốc ngày 8/6 ra tuyên bố khẳng định không hay biết tuyên bố của Malaysia rằng một tàu của Trung Quốc xuất hiện tại bãi Luconia.
Bắc Kinh hiện tuyên bố chủ quyền với khoảng 90% diện tích Biển Đông, thông qua cái gọi là đường 9 đoạn. Tuy nhiên nước này không hề xác định chính xác tọa độ của đường này, và cũng không đưa ra được căn cứ pháp lý cho tuyên bố của mình.
Theo ông Kassim, bãi Luconia là khu vực “giàu khí tự nhiên và dầu mỏ”.
Bộ trưởng quốc phòng Malaysia Hishammuddin Hussein từng cảnh báo về tình hình an ninh xấu đi do tranh chấp trên Biển Đông tại Đối thoại Shangri-La tại Singapore mới đây. Ông Hussein cho rằng “nếu chúng ta không cẩn thận, nó có thể leo thang thành một trong những cuộc xung đột đẫm máu nhất thời đại, nếu không muốn nói là trong lịch sử”.
Thanh Tùng
Theo WSJ

Phanh phui chuyến ra Hoàng Sa không tồn tại của Trung Quốc

Chuyến thám hiểm 1902 không hề tồn tại đã được đưa vào các sách sử. Sự thật này bị nhà địa lý người Pháp François-Xavier Bonnet phanh phui.

Hầu như không ngạc nhiên rằng, các bài viết bằng tiếng Anh về tranh chấp, do các tác giả người TQ viết và dựa vào các nguồn của TQ, lại có quan điểm ủng hộ phía TQ.
Cheng đã đánh giá là "có thể an tâm khi nói rằng, yêu sách của TQ về chủ quyền các quần đảo ở Biển Đông là mạnh hơn. Chiu và Park kết luận, "yêu sách của TQ về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là mạnh hơn yêu sách của VN".
Còn quan điểm của tác giả Shen đã thể hiện rõ ràng ngay từ tiêu đề của các bài báo: "Các nguyên tắc luật pháp quốc tế và bằng chứng lịch sử ủng hộ danh nghĩa chủ quyền của TQ đối với các quần đảo ở Biển Đông" và "Chủ quyền của TQ đối với các quần đảo ở Biển Đông".
Những nhận định trên ngày nay vẫn còn ảnh hưởng: như một ví dụ, chúng được trích dẫn trong các bài báo của Li và Tan năm 2014. Tuy nhiên, một sự kiểm tra kỹ lưỡng hơn những bằng chứng mà các bài báo này dựa vào hé lộ, chúng không hoàn toàn đáng tin cậy. Các bài báo trên các tạp chí từ năm 1933, 1956 và 1974 không nên được coi là bằng chứng trung lập, mà nên được coi là một cách hiểu thiên kiến về một lịch sử gây tranh cãi.
Giữa thế kỷ 20, Biển Đông cơ bản không có sự quản lý
Phạm vi bài viết này không đủ để đề cập tới mọi tuyên bố của các tác giả về những sự kiện trước thế kỷ 19. Một cách tóm tắt, các bài viết của Cheng, Chiu và Park, Samuels và Shen đều chia sẻ nhận định chung, rằng TQ luôn là cường quốc thống trị về hàng hải, thương mại và nghề cá ở Biển Đông.
Chẳng hạn như Cheng đã viết rằng, "Nó [Biển Đông] là một phần quan trọng của tuyến đường biển từ châu u sang phương Đông kể từ thế kỷ 16, một thiên đường cho các ngư dân từ đảo Hải Nam và cửa ngõ cho các doanh nhân TQ từ phía nam TQ sang Đông Nam Á kể từ những thời kỳ xa xưa".

TQ ngang nhiên công bố ảnh về đường băng mới xây trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của VN
TQ ngang nhiên công bố ảnh về đường băng mới xây trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của VN
Nhưng các nghiên cứu lịch sử Biển Đông có tính thực nghiệm nhiều hơn lại gợi ý rằng tình hình thực tế phức tạp hơn nhiều. Các công trình của các nhà sử học Leonard Blussé, Derek Heng, Pierre-Yves Manguin, Roderich Ptak, Angela Schottenhammer, Li Tana, Nicholas Tarling và Geoff Wade đã cho thấy đã có nhiều quốc gia tham gia vào việc sử dụng biển ở thời kỳ tiền hiện đại.
Các tàu và thương nhân TQ gần như không có vai trò gì trong hoạt động thương mại trên biển cho mãi tới thế kỷ thứ 10 và thậm chí sau đó, họ cũng chưa có bao giờ có sự thống trị trên biển, mà vùng biển đó được người Mã Lai, người Ấn Độ, người Arập và người châu u cùng chia nhau sử dụng. Nghiên cứu của François-Xavier Bonnet, Ulises Granados và Stein Tonnesson đã cho thấy những điều tương tự vẫn tồn tại trong vùng này cho đến thế kỷ 20 như thế nào.
Theo các ghi chép từ đầu thế kỷ 20, nhà nước TQ đã gặp khó khăn lớn ngay cả trong việc kiểm soát bờ biển của chính họ và hoàn toàn không có khả năng mở rộng kiểm soát đến các quần đảo cách xa bờ hàng trăm dặm.
Chẳng hạn như, hai bài báo trên tờ The Times of London từ tháng 1/1908 mô tả sự bất lực của các nhà chức trách TQ trong việc kiểm soát cướp biển ở sông Tây Giang.
Một bài báo đăng tải năm 1909 trên tờ The Examiner của Australia cho biết, những người ngoại quốc ("2 người Đức, một người Nhật và nhiều người Mã Lai") đã bắt đầu hoạt động khai mỏ ở đảo Hải Nam mà nhà chức trách TQ không hay biết, cho mãi tới rất lâu sau đó.
Điều mà các ghi chép đương đại này cho thấy là, cho mãi tới giữa thế kỷ 20, Biển Đông về cơ bản vẫn không có sự quản lý, ngoại trừ các cuộc can thiệp của các cường quốc nước ngoài thỉnh thoảng diễn ra nhằm chống cướp biển.
Mãi đến năm 1909, tiếp sau bê bối liên quan đến sự chiếm đóng đảo Đông Sa của doanh nhân phân bón Nhật Nishizawa Yoshiji, nhà chức trách TQ mới bắt đầu quan tâm tới các hòn đảo ngoài khơi.
Về Hiệp ước phân định biên giới 1887
Tuy nhiên, tác giả Samuels biện luận rằng, một tuyên bố chủ quyền ngấm ngầm của TQ đối với quần đảo Trường Sa có thể đã có từ năm 1883, khi theo ghi chép của ông, chính quyền nhà Minh chính thức phản đối một cuộc thám hiểm quần đảo này do chính quyền Đức bảo trợ. Cơ sở duy nhất cho khẳng định này là bài viết trên ấn bản số tháng 5/1974 của tờ Nguyệt san Minh báo ở Hong Kong, mà không có thêm bằng chứng chứng thực khác.
Chiu và Park (trong chú thích số 47) cũng dựa vào một bài báo xuất bản trong một số phát hành năm 1933 của Nguyệt san Ngoại giao, 50 năm sau khi các sự kiện còn nhiều nghi vấn nói trên đã xảy ra. Heinzig và Samuels sau đó cũng đều trích dẫn số Nguyệt san Minh báo này khi nói rằng, cuộc thám hiểm của Đức năm 1883 thực sự phải rút lui tiếp sau sự phản đối của TQ.
Tuyên bố trên dường như rất ít khả năng xảy ra, vì các nhà thám hiểm Đức đã lập bản đồ quần đảo Hoàng Sa (chứ không phải quần đảo Trường Sa) trong khoảng giữa năm 1881 - 1883, hoàn thành công việc của họ và sau đó cho đăng tải một hải đồ. Ấn bản của Pháp được xuất bản năm 1885.
Samuels viết, Hiệp ước phân định biên giới TQ - Bắc Kỳ thời Pháp thuộc 1887 do chính phủ Pháp, trên danh nghĩa là đại diện miền bắc VN, thương lượng, có giá trị như một bản thỏa thuận quốc tế phân chia các đảo cho TQ. Điều 3 của Hiệp ước thực tế có phân chia các đảo ở phía đông kinh tuyến Paris 105°43’ cho TQ.
Tuy nhiên, Samuels và các tác giả khác đã không lưu ý rằng, Hiệp ước chỉ áp dụng cho Bắc Kỳ - miền bắc VN hiện nay và do đó chỉ có thể liên quan đến các đảo ở vịnh Bắc Bộ.
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm xa hơn nhiều về phía nam, ở nơi khi đó thuộc địa hạt của An Nam (miền trung VN dưới sự cai trị của triều đình Huế) và Nam Kỳ, không được đề cập tới trong Hiệp ước.
Bí ẩn cuộc hành trình năm 1902
Dường như cũng có một số nhầm lẫn về thời điểm diễn ra cuộc viếng thăm đầu tiên của các quan chức TQ tới quần đảo Hoàng Sa.
Dựa vào bài viết trên Nguyệt san Minh báo năm 1974, Samuels cho thời điểm đó là vào năm 1902, với chuyến đi trở lại vào năm 1908. Austin và Dzurek cũng tiếp thu ý kiến của Samuels ở điểm này. Li và Tan (năm 2014) cũng quả quyết tuyên bố chủ quyền năm 1902, cùng với một chuyến đi thám hiểm riêng rẽ vào năm 1907.
Cheng lại xác định thời điểm là năm 1907, dựa vào những nguồn tham khảo năm 1933 như Chiu và Park đã đề cập tới, là một ấn bản của Tuần báo quốc văn năm 1933. Tuy nhiên, đối lập với các ghi chép này, mà được viết 26 - 72 năm sau khi xảy ra các sự kiện chúng miêu tả, một khảo sát báo chí đương thời cho thấy rõ ràng là, chuyến thám hiểm đầu tiên của các quan chức TQ tới Hoàng Sa là vào năm 1909.
Có lí do thích hợp cho sự nhầm lẫn về cuộc thám hiểm năm 1902. Vào tháng 6/1937, lãnh đạo khu vực hành chính số 9 của TQ, Hoàng Cường, được cử tham gia sứ mệnh bí mật tới Hoàng Sa, một phần để kiểm tra xem liệu trên quần đảo này có hoạt động của người Nhật hay không.
Tuy nhiên, Hoàng còn có một vai trò nữa, được làm rõ trong một phụ lục bí mật của báo cáo của ông.
Một đoạn trích của phụ lục này được Ủy ban Các địa danh của tỉnh Quảng Đông công bố bằng tiếng Trung vào năm 1987. Thuyền của ông chở theo 30 cột mốc đá, một số đề năm 1902, số khác đề năm 1912 và số còn lại đề năm 1921.
Trên đảo Bắc, ông cho chôn 2 cột mốc đề năm 1902 và 4 cột mốc đề năm 1912; trên đảo Linh Châu, đoàn của ông Hoàng đã chôn 1 cột mốc đề năm 1902, một cột mốc đề năm 1912 và một năm 1921. Trên đảo Phú Lâm, họ đã chôn 2 cột mốc đề năm 1921. Cuối cùng, trên đảo Đá, họ chôn một cột mốc đề năm 1912.
Các cột mốc đã bị lãng quên cho mãi tới năm 1974, khi sau cuộc chiến Hoàng Sa, chúng được tìm thấy và "khám phá" này được loan báo trên các tờ báo Hong Kong, chẳng hạn như Nguyệt san Minh báo.
Chuyến thám hiểm 1902 không hề tồn tại này sau đó đã được đưa vào các sách sử. Mãi tới hiện tại, sự thật này mới được nhà địa lý người Pháp François-Xavier Bonnet phanh phui.